Thứ Ba, ngày 15 tháng 4 năm 2014

Thông báo khóa tu Thiền dịp 30/04/2014 tại chùa Đình Quán

Ban Tổ chức hy vọng khóa tu sẽ để lại dấu ấn khó phai trong lòng mỗi thiền sinh. Chùa Đình Quán tổ chức khóa tu dịp nghỉ lễ 30/4 với chủ đề “TRỞ VỀ CỘI NGUỒN - 2” năm 2014

Thứ Tư, ngày 05 tháng 2 năm 2014

Lời giáo huấn của các bậc Cao tăng

Có những triết gia, nhà tư tưởng, nhà văn, nhà thơ, nhà văn hóa, lãnh đạo tôn giáo, các bậc cao tăng thạc đức Phật giáo, mà sự nghiệp tu hành, đạo học là tấm gương soi để hậu thế chiếu rọi, học tập làm theo. 
Nhân dịp Xuân Giáp Ngọ 2014, xin được trích thuật lời của một số quý vị Hoà thượng để quý vị bạn đọc cùng chiêm nghiệm, suy xét và học tập.

 
 
Các Tổ Sư, các cao Tăng Phật giáo là những vị thực tu thực chứng, có Định có Tuệ, có  kiến giải sâu sắc, có tầm nhìn thấu thị về  nhiều vấn đề, do vậy lời nói, câu chữ viết ra thành thơ, thành văn, hoặc phát biểu nơi này nơi khác, những lúc mạn đàm, đều sâu sắc để lại dấu ấn cho người đọc, người nghe.

Với tinh thần kính ngưỡng các vị cao Tăng, các bậc Thầy tôn kính trong Phật giáo, cùng với tinh thần tham cầu suy ngẫm, học hỏi và chia sẻ, nhân dịp xuân này xin dành tặng quý quý tăng, ni, phật tử và đồng bào những lời dạy của các cao Tăng Phật giáo mà do nhân duyên những người ghi chép được nghe trực tiếp hoặc sưu tầm từ các nguồn tư liệu.

1. Đức Đệ nhất Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt Nam - Cố Trưởng lão Hoà thượng Thích Đức Nhuận: Đất nước Việt nam trải qua hai lần độc lập thống nhất vào năm 1945 và năm 1975, thì Phật giáo Việt Nam cũng trải qua hai lần hợp nhất vào năm 1951 và năm 1981.

Trong cả hai lần ấy, cuộc đời và sự nghiệp của Hòa thượng Thích Đức Nhuận vừa là người trong cuộc, vừa là tác nhân tạo ra lịch sử Phật giáo thành tựu.
 Cố đức Đệ nhất Pháp chủ Thích Đức Nhuận. Ảnh: TGH 
 
Trong Đại hội Đại biểu Thống nhất Phật giáo toàn quốc lần thứ nhất họp vào ngày 7/11/1981, ngài đã ba lần từ chối ngôi vị Pháp chủ do Đại hội cung thỉnh. cuối cùng, trước tấm lòng chân thành thiết tha của toàn thể Đại biểu, ngài chấp nhận sự suy tôn ngài lên ngôi Pháp chủ Giáo hội Phật giáo Việt nam với ba đề nghị:

a. Các trường Phật học được mở khắp cả ba miền của đất nước: Hà Nội, Huế, Thành phố Hồ Chí Minh có đại học Phật giáo; mỗi tỉnh đều được thành lập Phật Học viện.

b. Người thừa kế và làm việc trong chùa cần được hợp pháp hóa.

c. Tất cả tín đồ từ thành thị đến thôn quê đều được tự do đến chùa lễ Phật và nghe giảng pháp.

Trụ thế 96 năm, nhập Thiền lâm 81 xuân thu, trải qua 77 hạ lạp, Ngài từ bỏ sắc thân tứ đại, giác linh nương thần lực Tam Bảo mà về nơi tịch tĩnh miên trường. nhưng dư hương hoa Đàm, vầng trí, biển đức, núi công vẫn lừng lững, làm tiêu bảng, gương sáng cho hậu thế. ngài là thạch trụ của Thiền môn, của Giáo hội và di huấn của ngài còn mãi không phai trong lòng môn đồ, pháp quyến và tất cả Tăng ni, phật tử Việt nam: “Phật giáo Việt Nam có tồn tại và duy trì hay không là tùy thuộc ở yếu tố con người, tùy thuộc ở chúng ta. Chư vị Hòa thượng, Thượng tọa, Tăng Ni phật tử phải ý thức về trách nhiệm lớn của mình đối với Đạo pháp và Dân tộc, làm sao cho pháp âm của đức Phật mãi mãi vang lên vì hạnh phúc và an lạc của mọi loài”.
 Đức Đệ nhị Pháp chủ GHPGVN - cố Trưởng lão HT.Thích Tâm Tịch và Hoà thượng Thích Phổ Tuệ
 
2. Đức Đệ nhị Pháp chủ GHPGvN - Cố Trưởng lão HT.Thích Tâm Tịch: Trụ thế 90, nhập Thiền lâm 76 xuân thu, trong suốt cuộc đời tu hành và hóa đạo, dù ở cương vị nào, Đại lão Hòa thượng luôn luôn thể hiện tâm đức của người con Phật “xuất trần thượng sĩ”, hành trì Giới - Định - Tuệ, chú tâm tỉnh giác, thu nhiếp tam nghiệp Thân - Khẩu - Ý… phụng sự trang nghiêm Tam Bảo.

Thường nhật, ngài rất ít nói, luôn kiên định, thầm lặng suy tư tìm những phương pháp thích nghi, góp ý chỉ đạo, khuyến tấn tứ chúng thực hiện những định hướng của Giáo hội đã vạch ra để phụng sự “Đạo pháp và Dân tộc”. ngài thường khuyên dạy tín đồ Phật tử rằng: “Mọi việc chúng ta làm là đều nhằm góp phần làm cho Phật pháp ngày thêm ngời sáng, tỏ rạng viên minh; đồng thời điểm tô tấm gương đại từ đại bi của đức Phật ngày càng tươi đẹp hơn trong tâm trí và cuộc sống nhân sinh”.

3. Đức Đệ tam Pháp chủ đương nhiệm Pháp chủ GHPGNN - Hoà thượng Thích Phổ Tuệ: Ngài  xuất gia vào năm 5 tuổi, 18 tuổi thọ Sa di giới, 20 tuổi thọ Đại giới Tỷ khiêu và Bồ tát giới tại Giới đàn Viên minh với các Sư tổ  Tế Xuyên, Đào Xuyên, Vĩnh nghiêm, Bồ Đề, Đa Bảo và Viên Minh. Ngài đã đi tham học ở hầu khắp các tổ đình miền Bắc. Ngài  là người truyền thừa chính thống của sơn môn Đa Bảo (một trong ba sơn môn lớn nhất Bắc Việt đương thời: nhất Đọi, nhì Đa, thứ ba Khê Hồi) và kế thừa duy nhất di sản của Viên minh Pháp hội Đạo tràng - “Học viện” nổi tiếng, kéo dài trong 12 năm liên tục (1913 - 1915) do Đại Pháp sư nguyên uẩn sáng lập và chủ trì.

Từ sau khi thọ Đại giới, trong hơn 50 năm (1935 - 1987), Đức ngài ẩn tu, nghiêm trì mật hạnh, sống đời sống thanh đạm ở nơi thôn dã, trực tiếp cày cấy, “buông tay cày cầm tay bút”, sinh sống bằng nghề nông.

Ngày 14/12/2007 Đại hội kỳ VI GHPGVN đã suy tôn Đức ngài lên ngôi vị Đệ tam Pháp chủ. Tính đến nay, trong suốt quãng đời tu hành hơn 90 năm, ngài luôn tuyên dương chính pháp ở mọi nơi, mọi lúc khi có thiện duyên. Và ngài cũng thường tuyên thuyết với các bậc tu hành rằng: “Căn bản và đầu tiên của nghệ thuật trụ trì là phải gương mẫu. Gương mẫu trong lời nói, việc làm, nhất là việc làm: ban vui cứu khổ, tha thứ, bao dung, chịu thương chịu khó, cần cù, giản dị, tiết kiệm, trường trai giữ giới, thanh tịnh là những điều không bao giờ cũ. Có vậy thì khi mang chân lý nhà Phật ra thuyết giảng người ta mới nghe, mới theo.”

Hòa thượng Thích Trí Thủ: “Những gì chúng tôi làm cho Phật giáo cũng có nghĩa là làm cho dân tộc, những gì chúng tôi làm cho dân tộc cũng có nghĩa là làm cho Phật giáo”.

Hòa thượng Thích Thiện Nhơn: “Chư tôn đức lãnh đạo Phật giáo Việt Nam nên mở các khóa dạy cho tăng, ni, và cả những phật tử nòng cốt nữa về ý thức chính trị. Không có ý thức về chính trị, không hiểu biết về chính trị, quý tăng, ni, phật tử sẽ rất dễ rơi vào trường hợp nhận giặc làm con, dễ rơi vào cái bẫy người ta (ngoại đạo) giăng ra, mình nhảy lọt thủm vào, táng thân mất mạng”

Hòa thượng Thích mãn Giác: “Dù đạo Phật có thể là một phương thuốc của thời đại, nhưng chúng ta cũng đừng quên những biến động chính trị và tôn giáo  đang xảy ra ở Thái Lan, Sri Lanka, Miến Điện và  Népal là những xứ mà đạo Phật là tuyệt  đại đa số, để thấy rằng muốn cho đạo Phật trở  thành phương thuốc hòa bình thì người phật tử phải tinh tấn cảnh giác và cố gắng nhiều hơn nữa...”

“Kiên trì và tinh tấn bám sát con đường Đấng Từ Phụ đã đi...”.

“Phật đích thân đến với quần chúng chứ không ngồi đợi quần chúng tìm đến Phật...”

Hòa thượng Thích Trí Quảng: “Chúng tôi nguyện đem xương máu trang trải cho Phật pháp, và nếu chết là chết như cái chết của chân lý trước bạo lực, chứ không phải bạo lực này chết vì kém bạo lực khác“.

Hòa thượng Thích Thiện Duyên: “Phật giáo Việt Nam không có gươm đao súng đạn, không có cơm áo gạo tiền mà vẫn tồn tại đến ngày nay, dù gặp không ít trở lực, đó là nhờ tinh thần gắn bó và phục vụ dân tộc, phục vụ chúng sinh. Từ bao đời, người Việt đã không tách biệt đâu là văn hóa dân tộc, đâu là văn hóa đạo Phật. Đạo Phật với dân tộc Việt Nam nhập thành một, cùng vui cùng khổ. Do vậy, chúng ta càng phải phát huy hơn nữa tính gắn bó ấy. Hãy dạy dỗ cho đàn em chúng ta hiểu sâu sắc điều này, nếu tách rời đạo Phật ra khỏi dân tộc thì đạo Phật sẽ không có đất đứng. Phải biết rằng đất nước hưng thì đạo Phật mới thịnh, và ngược lại”.

Hòa thượng Thích Trí Thủ: “Trong phạm vi Phật giáo, nhiệm vụ bất di bất dịch của cấp lãnh đạo là thừa kế Tổ đạo, truyền trì giới luật, hướng dẫn Tăng đồ và Tín đồ về mặt tinh thần, trụ trì các tự viện thuộc hệ thống của Giáo hội. Công tác lãnh đạo còn gồm cả việc gây giống ươm mầm, un đúc Tăng tài, để thừa kế Tổ đạo trong ngày mai”.

Hòa thượng Thích Đổng Minh: “Tiền như rắn độc, các ông hãy cẩn thận. Giờ nào việc nấy, chỗ nào vật ấy. Một điều nữa, sau khi tôi mất, tôi thích nằm nghiêng bên phải, các Thầy nên để như vậy. Không nên xây tháp, để tiền đó ấn tống Kinh sách, cúng dường các chùa. Hãy cố gắng tinh tấn, tinh tấn”.

Hòa thượng Thích Thiện Siêu: Khi được hỏi: “Là người giữ nhiều chức vụ quan trọng trong Giáo hội, công tác giáo dục Tăng Ni và hoạt động xã hội, nhưng những công trình của HT vẫn xuất hiện đều đặn, vậy HT sắp xếp công việc trong một ngày như thế nào?” ngài đã trả lời:

“Sáng sớm, sau thời tịnh niệm, tôi tập thể dục, vệ sinh cá nhân, uống nước rồi lên chánh điện tụng kinh. Sau đó thì dùng điểm tâm và bắt đầu công việc thường ngày. Nếu không có công việc Giáo hội hay giờ dạy cho Tăng Ni tại Học viện thì tôi ngồi dịch suốt ngày, chừng nào mệt thì nghỉ. Có việc gì thật cần thiết tôi mới đi ra ngoài, nhờ vậy mà thời gian gần đây tôi mới dịch được mấy bộ luận trên. Làm việc, theo tôi cốt ở sự chuyên tâm và đều đặn, nếu chuyên cần thì mọi việc rồi sẽ có kết qủa tốt”.

Hòa thượng Thích Đức Niệm: “Trải dòng đời năm tháng, nay tuổi đã 61, sống khắp nơi và tiếp xúc đủ hạng người, nhìn rõ sự vật , giáo lý đức Phật đã nung đúc tạo cho kiến thức nhận xét chính xác mình, người, vạn vật, và cuộc đời. Bây giờ tự tại trong tịnh thất, chẳng còn vướng bận thịnh suy, hơn thiệt. Tất cả là giả huyển. Nhìn rõ và thể nhập giả huyển của vạn vật bằng tâm chứ không bằng ngôn ngữ văn tự”.

Hòa thượng Thích Giác Ngộ: “Tôi muốn các chùa ở vùng sâu vùng xa, xây mới, trùng tu trước, chùa Tỉnh hội nơi tôi đang trụ trì trùng tu sau. Bởi vì nếu tôi trùng tu trước, tôi kêu gọi các giới Phật tử sẽ hưởng ứng đông đảo, đóng góp nhiều, do vậy khi các chùa vùng sâu vùng xa kêu gọi đóng góp trùng tu xây dựng sẽ gặp khó khăn. Các giới phật tử và các nhà hảo tâm hiến cúng ít lại, do vậy   các công trình trùng tu xây dựng chùa ở vùng sâu vùng xa khó hoàn thành. Chính vì lý do đó cho nên tôi chưa có ý định trùng tu chùa Tỉnh hội”.

Hòa thượng Thích Bửu Huệ: “Người xuất gia học đạo, không khác gì một lương tướng xông vào trận giặc, đánh dẹp hiên ngang, trước hết phải tinh thuần võ nghệ. Ðược như thế, thì cách vãn hồi an ninh trật tự cũng không khó.

Trọng trách của người độ hóa quần sinh, cần phải giải thoát chính mình làm trước. Cho nên việc nhập thất tịnh tu, là một pháp môn thiết yếu trong nhiều pháp môn”.

Hòa thượng Thích Thuyền Ấn:
 
“Hãy đứng dậy dấn thân tiến lên mãi
Tăng, ni đâu? Hòa hợp chung một lòng 
Phật tử đâu? Đoàn kết dựng non sông
Đem Chính pháp tô thắm quê hương Việt”.

Nguồn: Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 1 năm 2014, Xuân Giáp Ngọ

Học Phật bằng cách nào?


Văn huệ, Tư huệ rất cần thiết, song Tu huệ lại càng quan trọng hơn. Nếu có Văn huệ, Tư huệ mà thiếu Tu huệ thì chỉ là huệ rỗng, không lợi ích thiết thực cho đời sống con người. Nhờ Tu huệ mới thẩm định được giá trị Văn, Tư ở trên và giúp cho văn, tư được kết quả viên mãn.
Hỏi học Phật bằng cách nào, tức hỏi đến phương pháp học Phật. Ở thế gian môn học nào cũng có phương pháp riêng của nó. Ví như môn toán học, người học trò trước phải biết số, kế học thuộc cửu chương, học cách cộng trừ nhân chia, lên nữa phải học công thức, phương trình v.v...

Môn văn chương, trước phải biết chữ cái, học ráp vần, viết chính tả, học văn phạm, tập cách làm văn v.v... Phương chi Phật pháp là môn học giác ngộ, mà không có phương pháp riêng của nó hay sao?

Phương pháp học Phật tức là ba môn Huệ học: Văn huệ, Tư huệ, và Tu huệ. Bởi vì muốn vào cửa giác ngộ, không phải anh tướng trí huệ thì không sao vào được.

Phật pháp là chân lý là những sự thật, nếu không có ngọn đuốc trí huệ soi sáng, làm sao chúng ta thấy mọi sự thật ở chung quanh, không cần trí huệ, chỉ dùng lòng tin đến với đạo Phật, để học Phật pháp, thật là sai lầm lớn lao.

Ðây là chứng bệnh trầm trọng của Phật tử hiện thời. Cần chữa lành bệnh này, chúng ta phải ứng dụng triệt để ba môn Huệ học vào công trình tu học Phật pháp.

Thế nào là Văn Huệ?

Văn là nghe, do nghe giáo lý Phật pháp trí huệ mở sáng, gọi là Văn huệ. Chúng ta nghe Phật pháp qua lời giảng dạy của chư tăng, của thiện hữu tri thức đã tu học trước ta. Những lời giảng dạy ấy xuất phát từ kinh điển của Phật, trong đó chứa toàn lời chơn chánh, chỉ bày mọi sự thật cho chúng sinh. Càng nghe trí tuệ chúng ta càng sáng. Hoặc chúng ta trực tiếp đọc kinh sách Phật, khiến mở mang trí huệ cũng thuộc Văn huệ. Chịu khó nghe giảng dạy, chịu khó nghiên cứu kinh sách Phật, đó là người biết từ cửa Văn huệ tiến thẳng vào ngôi nhà Phật.

Thế nào là Tư Huệ?

Tư là suy xét phán đoán, do suy xét phán đoán những lời dạy trong Phật pháp, trí huệ càng tăng trưởng. Chúng ta được nghe lời chỉ dạy của thầy bạn, dẫn từ trong kinh Phật ra, song nghe liền là chưa đủ tư cách học Phật. Buộc chúng ta phải dùng trí phán đoán xem đúng hay sai, nếu quả thật đúng, từ đó chúng ta mới tin.

Có thế, mới thực hành đúng câu "các người phải tự thắp đuốc lên mà đi, thắp đuốc lên với chánh pháp", trong kinh Pháp Cú. Chúng ta muốn mở mang trí huệ, song tự mình làm sao mở được, phải mồi ngọn đuốc trí huệ của mình với ngọn đuốc chánh pháp của Phật, trí huệ mới phát sáng.

Mồi bằng cách nào?

Ví như chúng ta nghe vị Sư giảng rằng: "Tất cả thế gian đều là vô thường". Sau đó phải dùng trí huệ của mình phán đoán xem đúng hay không. Chúng ta tự đặt câu hỏi; tất cả thế gian đều vô thường, có sự vật nào thoát ngoài luật lệ ấy chăng? Nếu có, câu nói này chưa phải chân lý, chúng ta sẽ hoàn toàn tin. Thế rồi, ta tự khảo sát:

Con người có phải vô thường không? Từ ông bà đến cha mẹ chúng ta đều có sanh ra, lớn lên, bệnh hoạn, già yếu, rồi chết. Kể luôn cả ta, khi nào còn nhỏ bé, lớn lên, bệnh hoạn, già yếu, rồi cũng sẽ chết. Trong gia đình thân tộc chúng ta đã thế, ngoài xã hội cũng thế, cả nhơn loại trên thế giới cũng thế; ngàn xưa là thế, mãi sau này cũng thế. Quả là con người vô thường.
 Đức Phật giảng dạy chúng đệ tử
Ðến những sự vật, nào nhà cửa, bàn ghế, xe cộ có bị vô thường không? Chính cái nhà của mình, khi mới cất thì tốt đẹp lành lặn, qua vài ba năm thấy cũ dần, đến năm mười năm thì hư sập. Cái bàn viết cũng thế, khi mới đóng xem bóng loáng tốt đẹp, dùng mấy năm thấy đã cũ, tróc sơn khờn mặt, rồi đây sẽ mục nát hư hoại. Chiếc xe đạp khi mới mua đem về mới toanh, chạy được một năm vỏ đã rách, cổ lỏng, các con ốc lờn ... vài năm nữa sẽ hư. Thế là, nhà cửa, bàn ghế, xe cộ ... những vật cần dùng bên cạnh chúng ta thảy bị vô thường chi phối. Cho đến trăm ngàn vật khác, nếu khảo sát đều thấy đồng một số phận như nhau.

Chúng ta có thể kết luận rằng: "Tất cả thế gian là vô thường", quả thực là chân lý. Ta tin chắc lẽ này, dù có ai nói khác đi, cũng không làm lay động được lòng tin của ta. Bởi lòng tin này được gạn lọc qua sàng lý trí, nên nó vững chắc không dễ gì làm lung lay.

Lại một thí dụ, chúng ta nghe vị Sư giảng lý luân hồi, bảo rằng: "Muôn vật ở thế gian đều xoay quanh vòng luân hồi". Ta tự đặt câu hỏi: Tại sao muôn vật đều luân hồi? Có vật nào không luân hồi chăng? Chúng ta bắt đầu xét từ thực vật:

Cây cối thành hình bắt nguồn từ hạt, hạt nẩy mầm tăng trưởng thành cây, nở hoa, kết trái, trái sanh hạt, hạt lại nẩy mầm ... lộn đi đảo lại không cùng. Song đó là sự lộn đi đảo lại từ cây này sang cây khác, ngay bản thân cây ấy có đảo lộn vậy không? Cũng lộn đi đảo lại như thế. Thân cây hiện sống đây, do châm rễ hút đất nước ... nuôi dưỡng mới được sinh trưởng, dần dần thành đại thọ. Rễ hút đất nước nuôi dưỡng thân cành lá, lá rụng biến thành phân đất, cành gãy mục cũng thành phân đất, thân cây ngã cũng trở về đất nước sinh trưởng, khi ngã mục lại trở về đất nước.

Nước do ánh nắng bốc thành hơi, hơi lên cao gặp khí lạnh đọng lại, rơi xuống thành nước, nước lại bốc hơi ... mãi mãi không cùng.

To như quả địa cầu vẫn quay tròn quanh cái trục, sáng rồi tối, tối lại sáng. Căn cứ vào sự quay tròn của nó, người ta chia ra ngày giờ tháng năm, thời tiết xuân hạ thu đông, xoay vần thế mãi không cùng.

Do sự khảo sát trên, chúng ta khẳng định rằng "muôn vật ở thế gian đều xoay quang vòng luân hồi", là sự thật không còn gì phải nghi ngờ.

Trên đây tạm cử vài thí dụ làm căn bản cho công cuộc suy xét phán đoán Phật pháp. Căn cứ vào đây, chúng ta phán xét những lời Phật dạy, hoặc chư Tăng dạy trong những trường hợp khác. Có thế, mới phân biệt được chánh tà và mới đúng tinh thần người học Phật.

Thế nào là Tu Huệ?

Sau khi phán xét lời Phật dạy là đúng, chúng ta đem áp dụng trong cuộc sống hằng ngày của mình khiến chánh lý càng bày hiện sáng tỏ, là tu huệ. Ví như, đã biết rõ "Tất cả thế gian là vô thường", chúng ta ứng dụng sự vô thường vào đời sống của mình, trong những trường hợp như sau:

Ðã biết rõ thế gian là vô thường, khi gặp vô thường đến với bản thân, với gia đình ta, ta vẫn giữ bình tĩnh không hốt hoảng hãi sợ. Vì biết chắc điều đó ở thế gian không ai tránh khỏi, sợ hãi kinh hoàng chỉ làm rối thêm vô ích. Bởi không sợ nên tâm ta bình tĩnh sáng suốt, giải quyết mọi việc một cách tốt đẹp. Chúng ta vẫn đủ sáng suốt để khuyên giải cho những người đồng cảnh ngộ bớt đau khổ.

Biết rõ thế gian là vô thường, mọi sự tranh giành danh lợi, tài sắc ... lòng ta nguội lạnh. Tranh giành những thứ tạm bợ ấy làm gì, để rồi chuốc khổ về mình, gây đau khổ cho người, rốt cuộc chỉ thành việc mò trăng bắt bóng. Lòng tham lam giành giật dục lạc thế gian, do đây dứt sạch.

Do thấy rõ lẽ vô thường, chúng ta không thể ngồi yên chờ chết. Phải cố gắng làm mọi việc lành, nếu cơn vô thường đến, chúng ta có muốn làm cũng không sao làm được. Lại biết quý tiếc thời giờ, một ngày qua rồi không tìm lại được, phải cấp bách nỗ lực làm lợi mình lợi người, không thể chần chờ.

Ðó là ba trường hợp do biết "thế gian vô thường", chúng ta khéo ứng dụng tu hành trong cuộc sống hiện tại của mình. Bao nhiêu sự lợi ích tốt đẹp sẽ theo đó mà tăng trưởng. Sự tu hành ấy, đi đôi với tâm trí tỉnh táo sáng suốt, nên gọi là "Tu huệ".

Ví dụ khác, chúng ta nhận rõ "muôn vật luân hồi", liền ứng dụng lý luân hồi vào cuộc sống của mình. Nếu phải luân hồi, chúng ta chọn cái luân hồi nào tốt đẹp an ổn hơn. Ví như, biết các loài thảo mộc từ hạt nẩy mầm, sinh trưởng thành cây, đơm hoa, kết quả, hạt lại nẩy mầm ... chúng ta nên chọn lựa hạt tốt giống ngon đem ương. Ðể sau này kết quả ngon, cho ta và mọi người được thưởng thức vị ngon. Cũng thế, trong vòng luân hồi bản thân ta cũng không thoát khỏi, ta cần tạo những nhơn tốt, nhơn an vui, để mai kia có lăn lộn cũng lăn lộn trong chỗ tốt, chỗ an vui.

Ðã biết muôn vật luân hồi, chúng ta phải tìm xem nguyên nhân nào lôi cuốn vào trong ấy. Biết rõ nguyên nhân rồi, phải tìm cách thoát ra ngoài vòng luân hồi. Không đầu hàng khuất phục, để chịu lăn mãi trong luân hồi. Như các nhà khoa học nghiên cứu sức hút của quả đất, sau đó tìm cách chế phi thuyền đủ sức mạnh vượt ra ngoài vòng hút của quả đất, đi thẳng vào quỹ đạo ... Biết luân hồi để tìm cách thoát ra, chính là tinh thần "Tu huệ".

Văn huệ, Tư huệ rất cần thiết, song Tu huệ lại càng quan trọng hơn. Nếu có Văn huệ, Tư huệ mà thiếu Tu huệ thì chỉ là huệ rỗng, không lợi ích thiết thực cho đời sống con người. Nhờ Tu huệ mới thẩm định được giá trị Văn, Tư ở trên và giúp cho văn, tư được kết quả viên mãn.

Vì thế, đức Phật dạy hàng phật tử đi chùa là cốt gặp Sư tăng, Sư ni, gặp tăng, ni rồi cần phải thưa hỏi Phật pháp, thưa hỏi xong phải ghi nhớ, ghi nhớ rồi cần phán xét, phán xét rồi phải tiến tu. Ðược vậy mới đúng tinh thần Phật tử (Phỏng theo bài kinh Ma Ha Nam trong Tạp A Hàm). Bồ Tát Quán Thế Âm cũng trình với Phật, thuở quá khứ lâu xa Ngài gặp Phật dạy tu phương pháp văn, tư Âm (kinh Lăng Nghiêm). Chính trong giới Bồ tát, Phật cũng dạy "dù ở xa trăm ngàn dặm, nghe có người nói kinh luật, người mới thọ giới Bồ Tát cũng phải mang kinh luật đến đó học" (Kinh Phạm Võng). Quả nhiên đức Phật không chấp nhận đệ tử tu hành tối dốt, phải đầy đủ ba môn Huệ học, mới xứng là đệ tử Ngài.

Ba môn Huệ học này hoàn toàn thích hợp với tinh thần khoa học hiện nay. Bất luận môn học nào, trước tiên học lý thuyết, kế phê bình lý thuyết, sau thí nghiệm hay thực hành lý thuyết. Lý thuyết tức văn huệ, phê bình tức tư huệ, thí nghiệm tức tu huệ. Có như vậy môn học mới tiến bộ và phát minh những điều mới lạ.

Tuy nhiên, về mục tiêu chính yếu Phật học vẫn khác khoa học. Khoa học cốt phát minh mọi sự thật của ngoại giới, chinh phục giành quyền làm chủ thiên nhiên, bắt thiên nhiên làm theo ý muốn con người, để tạo vật chất dồi dào sung túc cho nhơn loại.

Phật học xoay lại ngự trị bản thân mình, gạn lọc đào thải những tâm thức nhơ xấu, kiến tạo một tâm hồn trong sáng an vui tự tại. Bởi khoa học gây tạo điều kiện vật chất dồi dào, nên con người dễ tranh đua giành giật kình chống lẫn nhau, Phật học cốt xây dựng tâm hồn trong sáng, nên người biết tu theo, lòng sẽ mở rộng thương yêu bảo bọc lẫn nhau.

Vì thế, ba môn huệ học đều đặt căn cứ trên nguyên tắc "xem lại chính mình". Nắm vững nguyên tắc này, đọc kinh sách Phật, chúng ta nhận định phán xét không bị sai lẫn.

Hòa thượng Thích Thanh Từ
Trích trong "Bước đầu học Phật"

Năm Ngọ quyết tâm bỏ ăn thịt Ngựa. Vì sao?

Ngựa ngày nay gần như khan hiếm. Việc giết ngựa đồng nghĩa với việc vùi dập những huyền thoại lịch sử hào hùng trường tồn với thời gian, để lấy thịt nuôi dưỡng cái thân vô thường tồn tại và ra đi chỉ trong một hơi thở, đó là lấy dài nuôi ngắn.
Tết Nguyên đán Giáp Ngọ 2014, cán bộ công chức có 9 ngày đón Tết, đối với người dân bình thường và một số phật tử tại gia, mâm cỗ gia đình không thể thiếu thịt mỡ dưa hành, vì theo phong tục tập quán, điều đó tượng trưng cho một năm sung túc, no đủ.
   
Phật giáo không đi ngược lại phong tục tập quán của người Việt Nam, Phật pháp làm tròn vẹn thêm nét nhân văn trong đời sống tinh thần người Việt những ngày xuân về.

Mùa xuân là mùa của sự thanh lọc về với tinh khôi và nhẹ nhàng, thảnh thơi, vậy nếu chúng ta thay cỗ mặn bằng cỗ chay thì thân tâm chúng ta sẽ an lạc, nhẹ nhõm hòa nhịp với tiết xuân tràn trề nhựa sống, tiết trời mà khiến vạn vật sinh sôi nảy lộc và tái sinh, vì vậy nhân ngày Tết, hoặc tự tay chúng ta giết gà, lợn để lấy thịt ăn cỗ, hoặc lên Tây Bắc ăn thắng cố (món này làm từ ruột non, ruột già lẫn da và móng của ngựa), rồi đi các nhà hàng ăn thịt ngựa, điều đó đi ngược lại ý nghĩa nhân văn của mùa xuân, đặc biệt vào các năm Ngọ...
 
 Ảnh minh họa

Năm Giáp Ngọ, con ngựa trở thành linh vật trong tín ngưỡng dân gian. Ngựa là động vật xuất hiện rất sớm trên trái đất, từ xa xưa, ngựa đã có vai trò quan trọng, gần gũi với cuộc sống con người. Cùng với chó mèo, ngựa là loài vật hữu dụng nhất, vì nó được con người thuần hóa, nuôi dưỡng, và huấn luyện để sử dụng nhiều công việc như cày cấy, chuyên chở hàng hóa, kéo xe, đưa thư tín.
   
Ngày nay thời đại tân tiến, đã có ô tô xe đạp, xe máy thay ngựa đồng hành cùng con người trên đường, máy cày thay thế trâu ngựa trong việc ruộng vườn nhà nông, dịch vụ chuyển phát nhanh thay ngựa vận chuyển hàng hóa. Thì ngựa lại được sử dụng trong lĩnh vực giải trí, thể thao như trong bộ môn thể thao cưỡi ngựa – đua ngựa vốn được các nước châu Âu ưa chuộng, như ngựa làm xiếc mua vui cho người. 
   
Trong y học, theo một số nghiên cứu, cao xương ngựa có thể dùng làm thuốc, hoặc giúp khoa học tìm ra huyết thanh trị bệnh, trị nọc rắn cứu người. Đúng là cứu người cũng là phúc đức, nhưng nếu giết sinh mạng nhỏ hơn để cứu sinh mạng lớn hơn, thì phúc đức cũng chẳng còn. Vì ngựa cũng biết đau và sợ chết như người. Vậy nên thiết nghĩ không nên giết ngựa để cứu người, mà nên đợi ngựa đến tuổi già, rồi tự tắt thở, vòng đời của ngựa cũng chỉ từ 18 đến 40 năm, chưa được đến 80 – 100 tuổi như con người; như vậy con người dùng ngựa làm thuốc như một giá trị hữu ích cuối cùng đối với người.
   
Ngựa còn có đặc tính mà không có loài vật nào có được, đó là sự khôn ngoan, sức dẻo dai bền bỉ chinh phục vạn dặm, khả năng nhớ đường trở về dù có đi quãng đường thật xa, thời gian thật dài. Ngựa có thể nhịn đối nhịn khát trong vài ba ngày.
   
Đối với chủ nhân của mình, ngựa rất tình cảm, trung thành quyến luyến. Ngựa thích được chủ vỗ về thủ thỉ. Tình cảm giữa người và ngựa dường như là một tình bạn sâu sắc. Tiêu biểu đó là mối tương thân giữa Thái tử Siddhattha và ngựa Kanthaka. Đức Phật đản sinh vào 8 tháng 4 năm 623 TCN, vì do túc duyên ba la mật từ nhiều a tăng kỳ kiếp, lúc ấy cùng có bảy nhân vật đồng sinh để trợ duyên cho quả vị Chánh đẳng giác, trong đó ngựa Kanthaka, ngoài công chùa Yasodhara, Ngài Ananda, hầu ngựa Channa, Kaludiya, cây Bồ đề, bốn hầm châu ngọc.
   
Ngựa Kanthaka đã trở thành nhân vật trợ duyên cho quả vị Phật tối thượng vào đêm 8/2 lịch sử, đêm mà Thái tử Siddattha rũ bỏ mọi danh vọng, tiền tài, sắc dục để tu thành Phật đạo, từ đó một vầng nhật nguyệt xuất hiện trên thế gian. Lừng lững. Vằng vặc trí tuệ và từ bi, còn soi sáng đêm ngày cho đến hết năm, ngàn năm cùng nhân duyên với chúng sinh hữu trí. 
   
Đêm đó, Thái tử Siddhattha đến bên ngựa Kanthaka vỗ về, thủ thị: “Đây là một chuyến đi xa, Kanthaka! Chuyến đi rất quan trọng với ta! Chuyến đi quyết định cả một đời người! Con hãy ra sức hết lòng nhé!”. Kanthaka dậm chân, hí một tràng dài như vui mừng, hoan hỷ trợ duyên cho chủ. Ngựa Kanthaka rất khỏe, đêm đó chở cả Thái tử Siddattha và Channa đi ngàn dặm vượt qua quốc độ Sakya, vượt Koliya để đến bên kia quốc độ Malla chỉ trong nửa đêm. Kanthaka phi nhẹ nhàng như một lằn sáng trắng, nhưng ngồi trên yên, Thái tử vẫn cứ cảm giác như ngồi trên tấm thảm nhung êm ái, không lay xóc.
 

Đặc biệt, khâm phục nhất là ngựa Kanthaka đã chở Thái tử và Channa bay qua sông Anoma rộng mênh mông. Chú thần mã ấy sau khi lấy đà, đã bay nhanh đến gần mép sông, nó uốn mình tạo lực đẩy, rồi như một mũi tên thoát khỏi dây cung, nó phi qua dòng sông như một luồng sáng. Gió thổi lồng lộng bên tai, bờ đất hiện ra, Kanthaka hết đà, dừng chân hí vang vì nó biết mình đã chiến thắng. Thái tử Siddhattha bước xuống, chậm rãi đến bên Kanthaka, ôm đầu nó rồi nói rằng:
   
“Ta vô cùng cảm ơn con, Kanthaka! Con đã đưa ta qua sông một cách uy dũng, và ngoạn mục. Còn cả chuyến đi nữa. Đấy là chuyến đi hệ trọng, chuyến đi định hướng cuộc đời ta đó. Con đã nhiệt tình giúp ta trong bước đầu trên lộ trình bất tử. Phước báu và công đức của con cao thượng lắm, con biết không?”
   
Kanthaka dường như nó hiểu. Nó đưa đôi mắt buồn buồn nhìn Thái tử, rồi nó lại đưa lưỡi liếm liếm vào bàn tay chàng, Kanthaka hiểu đây là giờ phút chia tay. Tại đây, Thái tử Siddhattha đã cạo bỏ râu tóc, trút bỏ xiêm lụa vàng ngọc đổi lấy áo vải gai vào rừng tu hành.
   
Còn ngựa Kanthaka quay lưng đi vừa được bảy bước, nó liền đứt ruột vỡ tim mà chết. Do tận dụng toàn vẹn sức lực để bay qua sông nên ruột nó đã đứt từng đoạn rồi, tuy nhiên, đợi giã từ Thái tử xong, nó mới gục xuống. Sau đó, Kanthaka tức khắc hóa sinh lên cõi trời Tavatimsa làm một vị thiên nam có tên Kantaka.
   
Bạn nghĩ gì khi đọc giai thoại trên?
   
Phải chăng bạn cũng nghĩ như tôi, nếu ngựa chỉ là thân phận loài vật mà lại làm nên nhiều công đức giúp ích cho người, thì ngựa cũng được hưởng phước báu, hưởng hết phước báu trên trời, kiếp sau lại được làm người. 
   
Bên cạnh đó, ngựa đã trợ duyên cho đức Phật từ một người bình thường như chúng ta tu thành Phật. Đức Phật dạy: “ Như Lai là Phật đã thành, chúng sinh là Phật sẽ thành”. Ngài khẳng định con người có Phật tính và có thể tu thành Phật quả như Ngài nếu tinh tấn và không dễ duôi.

Ngựa đã từng trợ duyên cho Bồ tát tu thành Phật, vậy nếu bây giờ, ngừng giết ngựa lấy thịt và ngừng ăn thịt ngựa, chúng ta đang trên bước đường theo dấu chân đức Từ phụ thế gian, vì nhu cầu không còn thì nguồn cung cũng không. “Buông hạ đồ đao, lập địa thành Phật”. 
     
Suốt cả quãng đời ngắn ngủi từ 18 đến 40 năm, loài ngựa đã làm nên nhiều huyền thoại lịch sử vàng son trong lịch sử nhân loại, như ngựa Kanthaka trợ duyên cho đức Phật xuất gia tu thành đạo để cứu độ chúng sinh; ở Việt Nam thời loạn lạc, các chiến mã đã từng góp phần làm nên những trang vàng lịch sử oanh liệt giữ độc lập cho nước nhà, khi tham gia các cuộc khởi nghĩa nổi tiếng như trận Bạch Đằng, khởi nghĩa Lam Sơn…v..v…
   
Vậy ta trân trọng ngựa như trân trọng những anh hùng có công với nhân loại dân tộc. Ngựa ngày nay gần như khan hiếm. Việc giết ngựa đồng nghĩa với việc vùi dập những huyền thoại lịch sử hào hùng trường tồn với thời gian, để lấy thịt nuôi dưỡng cái thân vô thường tồn tại và ra đi chỉ trong một hơi thở, đó là lấy dài nuôi ngắn.

Tôi tin bạn đủ trí  huệ để nhận ra và biết cách dừng lại việc làm mà bạn cho là không nên.

Diệu Hòa
Theo: Phatgiao.org.vn

Thứ Sáu, ngày 20 tháng 12 năm 2013

Chia sẻ cách từ bỏ sân hận và mê lầm

Phật tử tu không những vì muốn tạo an lạc cho chính mình, mà còn để tạo điều kiện cho người khác nhìn lại chính họ. Vậy, tu là sửa. Nhưng sửa những gì và sửa như thế nào? 
 
Bỏ sân hận cần nhẫn
    

Hà Nội: Thông báo về việc tổ chức Hội thi giáo lý cấp quận huyện cho cư sĩ, phật tử

Được sự nhất trí của thường trực BTS GHPGVN Tp.Hà Nội, Ban Hoằng pháp, Ban Hướng dẫn Phật tử phối hợp tổ chức hội thi cấp quận huyện với chủ để hướng về kỉ niệm Ngày Phật Thích Ca Mâu Ni thành đạo PL.2557 

Thứ Hai, ngày 16 tháng 12 năm 2013

Từ 04/1 - 05/1/2014, chùa Đình Quán tổ chức khóa tu Thiền

Hai ngày 04 và 05/1/2014, chùa Đình Quán (Phú Diễn – Từ Liêm – TP.Hà Nội) tổ chức khóa tu Thiền, với chủ đề “Xuân Thiền”

 

Thứ Ba, ngày 10 tháng 12 năm 2013

Lễ hằng thuận tại chùa Đình Quán

Ngày 06/11/Quý Tỵ (08/12/2013), chùa Đình Quán, Phú Diễn, Từ Liêm, Hà Nội đã tổ chức lễ hằng thuận cho hai đôi bạn trẻ: Lê Trường Giang và Đào Thanh Huyền; Trương Quảng Bình và Hoàng Thị Tuyết. 

Chùm ảnh: Lễ tưởng niệm 20 năm ngày Đức Đệ nhất pháp chủ GHPGVN viên tịch

Sáng 8/12, tại tổ đình Kim Liên (Đồng Hướng -  Kim Sơn - Ninh Bình) đã long trọng diễn ra Lễ tưởng niệm 20 năm ngày Đức Đệ nhất Pháp chủ GHPGVN – Đại lão HT. Thích Đức Nhuận viên tịch. 
 
Quang lâm và chứng minh buổi lễ có chư Tôn đức trong HĐCM: HT.Thích Thanh Sam; HT.Thích Đức Nghiệp, HT. Thích Thanh Dũng; HT. Thích Thanh Đàm, HT. Thích Giác Nhường, HT. Thích Thanh Dục; Chư Tôn đức trong HĐTS TƯ GHPGVN:  HT.Thích Thanh Nhiễu, HT.Thích Thiện Nhơn, HT.Thích Trích Trí Quảng, HT. Thích Giác Toàn; HT.Thích Thiện Tâm, HT.Thích Bảo Nghiêm, HT. Thích Thiện Pháp, TT. Thích Đức Thiện cùng hàng trăm chư tôn đức Tăng Ni trong cả nước.

Ngoài ra còn có các lãnh đạo Đảng, Nhà nước; lãnh đạo Ban Tôn giáo Chính phủ; lãnh đạo tỉnh Ninh Bình cùng đại diện lãnh đạo cơ quan, ban ngành tại địa phương và đông đảo phật tử thập phương cùng về tham dự.

HOẠT ĐỘNG PHẬT SỰ

VĂN HÓA PHẬT GIÁO

TỪ THIỆN

Dành cho Phật tử trẻ

Tu học